Kinh Dịch · Bài 03

Lịch sử hình thành Kinh Dịch: từ mai rùa đời Thương đến Thập Dực

Gần một nghìn năm, từ phép bói bằng mai rùa đến bản kinh điển khắc trên bia đá. Các mốc chính trong lịch sử Kinh Dịch, tách bạch sử liệu với truyền thuyết.

Khoảng 6 phút đọc · Cập nhật 06/10/2026

Tóm tắt nhanh
  • Kinh Dịch không do một người viết trong một lần: nó hình thành qua gần một nghìn năm, từ tập quán bói bằng mai rùa đời Thương đến bản kinh điển được nhà nước Hán công nhận.
  • Ba bước ngoặt: lớp kinh ra đời thời Tây Chu; lớp truyện thời Chiến Quốc; được tôn làm kinh năm 136 TCN.
  • Từ thế kỷ III đến XII, các nhà chú giải (Vương Bật, Khổng Dĩnh Đạt, Trình Di, Chu Hy) định hình cách đọc Kinh Dịch mà ta thừa hưởng.
  • Khảo cổ học thế kỷ XX (Mã Vương Đôi, Thượng Bác…) cho thấy văn bản từng có nhiều dị bản.

Bài này đi theo trục thời gian. Ở mỗi mốc, nhãn Sử liệu đánh dấu điều có bằng chứng văn bản hoặc khảo cổ, nhãn Truyền thuyết đánh dấu điều chỉ được kể lại trong sách đời sau.

ThươngTây ChuXuân ThuChiến QuốcHánSố tự quái trên giáp cốt, gốm, đồ đồngLớp Kinh: quái từ, hào từ được biên soạn dầnLớp Truyện: Thập Dực hình thành213 TCN · đốt sách168 · Mã Vương Đôi136 · lập Ngũ Kinh bác sĩ175 CN · khắc Hy Bình thạch kinh1200 TCN1000 TCN800 TCN600 TCN400 TCN200 TCN0200
Ba lớp của Kinh Dịch trên trục thời gian (tỉ lệ gần đúng). Dải màu là khoảng niên đại được giới nghiên cứu ước tính, không phải mốc chính xác.

1. Trước nhà Chu: bói bằng lửa và số

Không xác địnhTruyền thuyết Phục Hy ngửa xem trời, cúi xem đất mà vạch ra tám quẻ (Hệ Từ hạ truyện). Đời sau còn kể nhà Hạ có sách Dịch tên Liên Sơn, nhà Thương có Quy Tàng. Xem phân tích ở bài Phục Hy và truyền thuyết bát quái.
Khoảng 1250–1046 TCNSử liệu Ở kinh đô cuối nhà Thương (Ân Khư, An Dương), hàng vạn mảnh mai rùa và xương bả vai bò được khoan, đốt; vết nứt được đọc thành lời đoán và khắc lại thành chữ — đó là chữ giáp cốt. Đây là phép bói bằng lửa (bốc), khác với phép bói bằng cỏ thi (phệ) của Kinh Dịch.
Cuối Thương – đầu ChuSử liệu Trên giáp cốt, đồ gốm và đồ đồng xuất hiện các nhóm ba hoặc sáu chữ số xếp chồng — số tự quái. Đây là bằng chứng sớm nhất cho việc dùng con số để lập quẻ.

2. Nhà Chu: Chu Dịch ra đời

Khoảng 1046 TCNTruyền thuyết Sử ký chép “Văn Vương bị giam mà diễn Chu Dịch” — tức bị vua Trụ giam ở Dữu Lý, ông chồng tám quẻ thành sáu mươi tư quẻ. Thuyết Chu Công viết hào từ xuất hiện muộn hơn.
Tây Chu (1046–771 TCN)Sử liệu Lời quẻ, lời hào nhắc các sự kiện như Cao Tông đánh Quỷ Phương, Đế Ất gả em gái, Khang Hầu được ban ngựa — đều thuộc cuối Thương, đầu Chu. Giới nghiên cứu vì vậy cho rằng lớp kinh được biên soạn dần trong thời Tây Chu, có thể hoàn thiện vào khoảng thế kỷ IX–VIII TCN.
Xuân Thu (770–476 TCN)Sử liệu Tả truyện và Quốc ngữ ghi lại khoảng hai chục trường hợp quý tộc các nước dùng Chu Dịch để bói hoặc dẫn lời hào khi bàn chính sự. Đây là bằng chứng chắc chắn rằng văn bản đã lưu hành rộng.
551–479 TCNSử liệu Khổng Tử nói: “Cho ta thêm mấy năm, năm mươi tuổi học Dịch thì có thể không mắc lỗi lớn” (Luận Ngữ, Thuật nhi). Truyền thuyết Ông đọc Dịch đến mức “ba lần đứt lề da buộc thẻ tre” (Sử ký) và soạn Thập Dực.

3. Chiến Quốc và Tần: từ sách bói thành sách triết học

Thế kỷ IV–III TCNSử liệu Các thiên truyện — Thoán, Tượng, Hệ Từ, Văn Ngôn… — được soạn bởi nhiều thế hệ học trò Nho gia, chịu ảnh hưởng tư tưởng âm dương. Bản thẻ tre Sở thời Chiến Quốc (Bảo tàng Thượng Hải công bố năm 2003) là bản Chu Dịch cổ nhất hiện biết.
213 TCNSử liệu Theo kiến nghị của thừa tướng Lý Tư, Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt Thi, Thư và sách sử các nước; sách y dược, bói toán, trồng cây được miễn. Kinh Dịch vì là sách bói nên thoát nạn — xem bài Vì sao Kinh Dịch thoát nạn đốt sách.

4. Nhà Hán: trở thành kinh điển

168 TCNSử liệu Năm hạ táng ngôi mộ số 3 ở Mã Vương Đôi (Trường Sa). Bản Chu Dịch chép trên lụa trong mộ — đào được năm 1973 — có thứ tự quẻ khác bản thông hành và kèm những thiên truyện không có trong Thập Dực.
136 TCNSử liệu Hán Vũ Đế đặt chức bác sĩ cho Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu). Từ đây Chu Dịch chính thức thành Dịch Kinh — kinh điển nhà nước, được dạy và thi cử.
Thế kỷ I TCNSử liệu Phái tượng số (Mạnh Hỷ, Kinh Phòng) gắn quẻ với lịch, tiết khí và âm dương tai dị — nền móng cho nhiều ứng dụng “thuật số” về sau.
175–183 CNSử liệu Hy Bình thạch kinh: triều Đông Hán khắc toàn văn các kinh, trong đó có Chu Dịch, lên bia đá đặt ở Thái học Lạc Dương để làm văn bản chuẩn.

5. Các nhà chú giải định hình cách đọc

Thời gianNgười / tác phẩmĐóng góp
Thế kỷ IIIVương Bật (226–249), Chu Dịch chúGạt bỏ tượng số rườm rà, đọc Dịch theo nghĩa lý; “được ý thì quên tượng”.
653Khổng Dĩnh Đạt, Chu Dịch chính nghĩaNhà Đường ban hành làm sách chuẩn cho khoa cử, lấy chú của Vương Bật làm nền. Văn bản nguyên văn trên trang này thuộc truyền thống ấy.
Thế kỷ XIThiệu Ung; Lưu MụcĐưa vào các đồ hình Tiên thiên, Hà Đồ, Lạc Thư — vốn không có trong văn bản đời Hán.
1099Trình Di, Dịch truyệnĐọc Dịch như sách đạo đức và chính trị.
Thế kỷ XIIChu Hy, Chu Dịch bản nghĩaKhẳng định “Dịch vốn là sách bói”, đồng thời dung hòa nghĩa lý và tượng số; ảnh hưởng lớn tới Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.
1706Hồ Vị, Dịch đồ minh biệnChứng minh các đồ hình Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên thiên đến từ giới đạo sĩ đời Tống, không phải từ thời cổ.

6. Khảo cổ học thế kỷ XX: văn bản sống lại

  • 1973 — Mã Vương Đôi: bản lụa Chu Dịch và các thiên truyện như Nhị Tam Tử vấn, Yếu, trong đó Khổng Tử được mô tả là “về già thích Dịch”.
  • 1993 — Vương Gia Đài: thẻ tre thời Tần chứa văn bản được nhiều người cho là sách Quy Tàng.
  • 2003 — Thượng Bác: 58 thẻ tre Chu Dịch thời Chiến Quốc, kèm các ký hiệu màu đỏ đen chưa giải thích được trọn vẹn.
  • Thanh Hoa giản: thẻ tre Chiến Quốc do Đại học Thanh Hoa sưu tập (2008) có các văn bản bói bằng quẻ, mở ra cách hiểu mới về phép lập quẻ cổ.

Điều mà các phát hiện này cùng cho thấy: Kinh Dịch không phải văn bản “bất biến từ thời thánh nhân”, mà là một văn bản sống, được chép lại, sắp lại và giải thích lại qua từng thời đại.

Nguồn

  1. Tư Mã Thiên, Sử ký: Thái sử công tự tự; Khổng Tử thế gia; Tần Thủy Hoàng bản kỷ.
  2. Luận Ngữ · Thuật nhi; Tả truyện — nguyên văn tại ctext.org.
  3. Ban Cố, Hán thư · Nghệ văn chí; Nho lâm truyện.
  4. Edward L. Shaughnessy, I Ching: The Classic of Changes — the first English translation of the newly discovered Mawangdui texts, Ballantine, 1996.
  5. Edward L. Shaughnessy, Unearthing the Changes, Columbia University Press, 2014.
  6. Richard J. Smith, The I Ching: A Biography, Princeton University Press, 2012.